Răng bị sâu luôn làm bạn cảm thấy khó chịu, đau đớn và ăn uống không ngon miệng. Bốn bài thuốc dân gian rất dễ tìm dưới đây sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề khó chịu ấy.
Mẹo chữa hôi miệng cực kỳ hiệu quả theo cách của chuyên gia Anh
4 bài thuốc dân gian chữa sâu răng hiệu quả
1. Chữa sâu răng bằng hoa cúc vàng
Nguyên liệu: 5 cành hoa cúc vàng.
Cách thực hiện: Hoa cúc đem tách phần cánh hoa, sửa sạch. Đặt cánh hoa cúc vào chỗ sâu răng, nhai kỹ và ngậm khoảng 15 phút. Tinh chất trong cánh hoa cúc có tác dụng diệt khuẩn sẽ thẩm thấu vào chỗ sâu, giúp cơn đau biến mất.
Cho số cánh hoa còn lại vào chai ngâm cùng rượu trắng và ngậm hàng ngày. Rượu hoa cúc ngâm qua đêm là có thể dùng được, tuy nhiên bạn nên ngâm càng lâu càng tốt. Mỗi ngày ngậm khoảng 2 – 3 lần, mỗi lần một ngụm nhỏ. Sau 2 – 3 tuần, tình trạng sâu răng sẽ giảm rõ rệt.
2. Chữa sâu răng bằng cây xương cá
Nguyên liệu: 1 hoặc 2 cành cây xương cá.
Cách thực hiện: Bẻ đôi cành cây xương cá để lấy nhựa. Dùng tăm bông thấm nhựa trực tiếp, bôi vào chỗ sâu răng. Mỗi ngày bạn nên bôi 1 lần, sau 2-3 tuần sẽ có hiệu quả tốt.
3. Chữa sâu răng bằng gừng
Nguyên liệu: 100g củ gừng để nguyên vỏ.
Cách thực hiện: Gừng tươi rửa sạch, thái nhỏ rồi giã nát, sau đó đắp lên chỗ sâu răng và ngậm. Bạn nên làm vào buổi tối, trước lúc đi ngủ và ngậm qua đêm để có hiệu quả tốt nhất. Sau 7-10 ngày đắp gừng, sâu răng sẽ giảm hẳn.
4. Chữa sâu răng từ nhựa đu đủ
Nguyên liệu: Quả đu đủ non.
Cách thực hiện: Chọn loại đu đủ non và còn tươi để thu được nhiều nhựa. Cắt quả đu đủ ra, dùng tăm bông thấm lấy phần nhựa và bôi trực tiếp vào chỗ sâu răng. Chú ý là không được nuốt phần nhựa này. Bôi liên tục hàng ngày cho đến khi không còn cảm giác đau nhức nữa.
Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016
Mẹo chữa đau họng không cần đến 1 viên thuốc nào
Mỗi khi thời tiết chuyển mùa hay ăn uống những đồ quá lạnh hay quá nóng khiến cổ họng bạn đau rát và rất khó chịu. Bạn lại không thích uống thuốc thì chỉ cần áp dụng mẹo chữa đau họng không cần đến 1 viên thuốc nào dưới đây để xua tan đau họng một cách nhanh chóng.
Nước muối loãng
Súc miệng bằng nước muối là cách làm đơn giản nhưng lại rất hiệu quả.
Khi bị đau họng sẽ kéo theo chứng hôi miệng do đó nước muối không chỉ giúp bạn sát khuẩn cho họng mà nó còn có tác dụng khử mùi hôi miệng rất tốt.
Bạn có thể dùng nước muối sinh lý hay dùng muối trắng có sẵn trong bếp nhà bạn rồi pha loãng ra rồi dùng súc miệng vào buổi tối trước khi đi ngủ và sau sáng sớm ngủ dậy.
Không chỉ khi bị đau họng mà hàng ngày bạn đều có thể áp dụng phương pháp này để làm sạch răng miệng, khử mùi hôi và phòng chống đau họng.
Một nghiên cứu ở Mỹ được đăng trên tạp chí Y tế dự phòng Mỹ cho biết 40% những người bị đau họng, nhiễm trùng đường hô hấp trên sử dụng nước muối loãng 3 lần/ ngày để súc miệng trong khoảng 2-3 ngày thì tình trạng bệnh đã thuyên giảm đáng kể.
Phở gà
Nghe có vẻ lạ và khó tin về cách chữa đau họng này. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Nhật Bản đã phát hiện ra rằng thịt gà có chứa chất nhầy trong phổi có tác dụng giúp người bệnh ho ra đàm nhanh.
Do đó, nó có tác dụng làm giảm chứng đau họng, ho, đàm và chảy nước mũi xuống cổ họng.
Tiếp đó, Trung tâm y tế ĐH Nebraska cũng chứng minh rằng phở gà cũng có tác dụng chống virus, do đó nó có tác dụng chống viêm.
Với sự kết hợp của các loại rau, thịt gà, nước dùng của phở gà làm tăng tác dụng chống viêm, giảm đau họng cho bạn.
Vì vậy, mỗi khi bị đau họng bạn nên ăn nhiều phở gà để giảm thiểu tình trạng trên nhé!
Trà chanh mật ong
Mật ong có tác dụng vô cùng lớn với sức khỏe của chúng ta. Nhờ có tác dụng kháng khuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể, bảo vệ cổ họng tốt hơn.
Pha một tách trà nóng, cho 1 thìa café mật ong, ½ quả chanh tươi vắt nước vào và uống nóng.
Trà chanh mật ong sẽ giúp họng của bạn dịu lại, bớt khô, độ kháng khuẩn cực cao.
Ngậm tỏi sống
Chất allicin- một kháng sinh rất mạnh chứa trong tỏi giúp tiêu diệt vi khuẩn, virus. Theo đó, Degelman nói rằng bạn có thể ngậm 1 vài tép tỏi sống hàng ngày từ 5-7 phút để có sát khuẩn và giảm đau họng.
Cách phòng tránh đau họng
- Vệ sinh răng miệng sạch sẽ hàng ngày.
- Không ăn đồ quá nóng hay quá lạnh.
- Luôn giữ ấm cho cổ họng của bạn.
Nước muối loãng
Súc miệng bằng nước muối là cách làm đơn giản nhưng lại rất hiệu quả.
Khi bị đau họng sẽ kéo theo chứng hôi miệng do đó nước muối không chỉ giúp bạn sát khuẩn cho họng mà nó còn có tác dụng khử mùi hôi miệng rất tốt.
Bạn có thể dùng nước muối sinh lý hay dùng muối trắng có sẵn trong bếp nhà bạn rồi pha loãng ra rồi dùng súc miệng vào buổi tối trước khi đi ngủ và sau sáng sớm ngủ dậy.
Không chỉ khi bị đau họng mà hàng ngày bạn đều có thể áp dụng phương pháp này để làm sạch răng miệng, khử mùi hôi và phòng chống đau họng.
Một nghiên cứu ở Mỹ được đăng trên tạp chí Y tế dự phòng Mỹ cho biết 40% những người bị đau họng, nhiễm trùng đường hô hấp trên sử dụng nước muối loãng 3 lần/ ngày để súc miệng trong khoảng 2-3 ngày thì tình trạng bệnh đã thuyên giảm đáng kể.
Phở gà
Nghe có vẻ lạ và khó tin về cách chữa đau họng này. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Nhật Bản đã phát hiện ra rằng thịt gà có chứa chất nhầy trong phổi có tác dụng giúp người bệnh ho ra đàm nhanh.
Do đó, nó có tác dụng làm giảm chứng đau họng, ho, đàm và chảy nước mũi xuống cổ họng.
Tiếp đó, Trung tâm y tế ĐH Nebraska cũng chứng minh rằng phở gà cũng có tác dụng chống virus, do đó nó có tác dụng chống viêm.
Với sự kết hợp của các loại rau, thịt gà, nước dùng của phở gà làm tăng tác dụng chống viêm, giảm đau họng cho bạn.
Vì vậy, mỗi khi bị đau họng bạn nên ăn nhiều phở gà để giảm thiểu tình trạng trên nhé!
Trà chanh mật ong
Mật ong có tác dụng vô cùng lớn với sức khỏe của chúng ta. Nhờ có tác dụng kháng khuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể, bảo vệ cổ họng tốt hơn.
Pha một tách trà nóng, cho 1 thìa café mật ong, ½ quả chanh tươi vắt nước vào và uống nóng.
Trà chanh mật ong sẽ giúp họng của bạn dịu lại, bớt khô, độ kháng khuẩn cực cao.
Ngậm tỏi sống
Chất allicin- một kháng sinh rất mạnh chứa trong tỏi giúp tiêu diệt vi khuẩn, virus. Theo đó, Degelman nói rằng bạn có thể ngậm 1 vài tép tỏi sống hàng ngày từ 5-7 phút để có sát khuẩn và giảm đau họng.
Cách phòng tránh đau họng
- Vệ sinh răng miệng sạch sẽ hàng ngày.
- Không ăn đồ quá nóng hay quá lạnh.
- Luôn giữ ấm cho cổ họng của bạn.
Cách nấu chè ngon giữ nguyên chất bổ
Bí quyết nấu chè ngon thể hiện ở cách sơ chế nguyên liệu, điều chỉnh lửa hay chọn loại đường để nêm nếm…Bài viết dưới đây sẽ chia sẻ cho bạn chi tiết cách nấu chè ngon giữ nguyên chất bổ và làm thêm hương vị thơm ngon cho món chè.
Nguyên liệu
Nguyên liệu để nấu chè phần lớn là các loại đậu, hạt, củ và trái cây, dạng khô hay tươi. Với nguyên liệu khô, cần ngâm nở mềm trước khi nấu, còn nguyên liệu tươi chỉ cần rửa sạch hoặc luộc sơ là được. Tất cả nguyên liệu phải cắt nhỏ để khi nấu dễ thấm đường hơn.
Nguyên liệu “cứng đầu” nhất thường là đậu khô các loại và hạt sen khô, do mất nhiều thời gian để nấu mềm. Bạn chỉ cần rửa sạch đậu, loại bỏ các hột hư lép nổi lên mặt nước, sau đó ngâm đậu cùng với ít bột baking soda (bột nổi), ngâm khoảng ba-bốn giờ hoặc qua đêm. Đậu xanh nhanh mềm hơn nên khi ngâm chỉ cần cho ít muối, không ngâm bột baking soda.
Điều chỉnh lửa
Kinh nghiệm nấu chè ngon là biết điều chỉnh lửa khi nấu. Lúc đầu nên để lửa lớn, khi cho nguyên liệu vào, lửa sôi bùng trở lại thì hạ bớt lửa để nấu cho nguyên liệu mềm. Không dùng lửa quá lớn khiến chè mau cạn nước và bị cháy, ngược lại nếu để lửa quá nhỏ, nguyên liệu sẽ bị sượng, không mềm.
Với các món chè nếp, chè bắp, chè chuối, chè đậu xanh đánh, cần khuấy đều tay để chè không cháy khét, bám dính đáy nồi.
Dùng đường
Đường cát trắng thích hợp để nấu tất cả các loại chè. Tuy nhiên muốn nồi chè có hương vị đặc biệt hơn, nên chọn dùng đường phèn hoặc đường thốt nốt.
Đường thốt nốt tạo vị ngọt đậm và cho màu đẹp hơn, dùng nấu các món chè nước đơn giản như chè đậu đen, đậu xanh, đậu đỏ, chè khoai lang, bí đỏ hoặc chè trôi nước, món chè sẽ “quyến rũ” hơn bởi mùi thơm đặc biệt của thốt nốt. Với những món chè thanh nhiệt như đậu xanh nha đam, hạt sen, nhãn nhục, bạch quả…, nên dùng đường phèn để chè có vị ngọt thanh, nước chè trong vắt và có tác dụng giải nhiệt.
Nêm đường vào sau cùng, khi tất cả các nguyên liệu đều mềm, nhất là khi nấu chè đậu hoặc hạt sen, vì đậu và hạt sen dễ bị sượng cứng lại nếu cho đường vào quá sớm. Bí quyết để nấu chè ngon là đổ bớt nước luộc ra, ướp đường vào nguyên liệu đã nấu mềm khoảng một-hai tiếng hoặc đổ đường vào nấu lửa liu riu cho đến khi sệt lại mới cho nước đã luộc vào nấu tiếp.
Nước cốt dừa
Nước cốt dừa béo ngậy giúp chè thơm ngon hơn. Khi vắt nước cốt dừa, nên để riêng hai loại nước cốt và nước dảo (nước vắt lần hai). Trong quá trình nấu chè, không nên cho nước cốt dừa vào nấu chung, vì khi nấu lâu nước cốt dừa lên dầu và biến mùi. Nấu nước cốt dừa với ít muối và đường, khuấy thêm bột đổ vào, khi múc chè ra ăn mới rưới lên, vừa thơm vừa ngon.
Đa số các món chè có nước ít dùng nước dảo dừa, riêng một số chè dạng đặc hoặc sệt như chè chuối, chè thưng, chè nếp đậu trắng, chè nếp khoai môn, chè bắp thì… cho nước dảo dừa vào nấu thay nước lã để chè béo và ngon hơn.
Kết hợp nguyên liệu
Kết hợp thêm vài loại nguyên liệu giúp chè ngon và bổ dưỡng hơn. Có thể kết hợp nấu hai loại nguyên liệu như đậu đỏ và hạt sen, đậu xanh và khoai lang, bí đỏ và bắp, mè đen và đậu phộng, hạt sen và bạch quả… hoặc thêm vài nguyên liệu phụ như nha đam, bột báng, bột khoai, phổ tai, nấm tuyết, trân châu, thạch để món chè tuyệt vời hơn và không ngán.
Ngoài ra, khi nấu có thể dùng thêm lá dứa hoặc cho vani vào khuấy đều rồi tắt bếp ngay để tạo mùi thơm hấp dẫn.
Nguyên liệu
Nguyên liệu để nấu chè phần lớn là các loại đậu, hạt, củ và trái cây, dạng khô hay tươi. Với nguyên liệu khô, cần ngâm nở mềm trước khi nấu, còn nguyên liệu tươi chỉ cần rửa sạch hoặc luộc sơ là được. Tất cả nguyên liệu phải cắt nhỏ để khi nấu dễ thấm đường hơn.
Nguyên liệu “cứng đầu” nhất thường là đậu khô các loại và hạt sen khô, do mất nhiều thời gian để nấu mềm. Bạn chỉ cần rửa sạch đậu, loại bỏ các hột hư lép nổi lên mặt nước, sau đó ngâm đậu cùng với ít bột baking soda (bột nổi), ngâm khoảng ba-bốn giờ hoặc qua đêm. Đậu xanh nhanh mềm hơn nên khi ngâm chỉ cần cho ít muối, không ngâm bột baking soda.
Điều chỉnh lửa
Kinh nghiệm nấu chè ngon là biết điều chỉnh lửa khi nấu. Lúc đầu nên để lửa lớn, khi cho nguyên liệu vào, lửa sôi bùng trở lại thì hạ bớt lửa để nấu cho nguyên liệu mềm. Không dùng lửa quá lớn khiến chè mau cạn nước và bị cháy, ngược lại nếu để lửa quá nhỏ, nguyên liệu sẽ bị sượng, không mềm.
Với các món chè nếp, chè bắp, chè chuối, chè đậu xanh đánh, cần khuấy đều tay để chè không cháy khét, bám dính đáy nồi.
Dùng đường
Đường cát trắng thích hợp để nấu tất cả các loại chè. Tuy nhiên muốn nồi chè có hương vị đặc biệt hơn, nên chọn dùng đường phèn hoặc đường thốt nốt.
Đường thốt nốt tạo vị ngọt đậm và cho màu đẹp hơn, dùng nấu các món chè nước đơn giản như chè đậu đen, đậu xanh, đậu đỏ, chè khoai lang, bí đỏ hoặc chè trôi nước, món chè sẽ “quyến rũ” hơn bởi mùi thơm đặc biệt của thốt nốt. Với những món chè thanh nhiệt như đậu xanh nha đam, hạt sen, nhãn nhục, bạch quả…, nên dùng đường phèn để chè có vị ngọt thanh, nước chè trong vắt và có tác dụng giải nhiệt.
Nêm đường vào sau cùng, khi tất cả các nguyên liệu đều mềm, nhất là khi nấu chè đậu hoặc hạt sen, vì đậu và hạt sen dễ bị sượng cứng lại nếu cho đường vào quá sớm. Bí quyết để nấu chè ngon là đổ bớt nước luộc ra, ướp đường vào nguyên liệu đã nấu mềm khoảng một-hai tiếng hoặc đổ đường vào nấu lửa liu riu cho đến khi sệt lại mới cho nước đã luộc vào nấu tiếp.
Nước cốt dừa
Nước cốt dừa béo ngậy giúp chè thơm ngon hơn. Khi vắt nước cốt dừa, nên để riêng hai loại nước cốt và nước dảo (nước vắt lần hai). Trong quá trình nấu chè, không nên cho nước cốt dừa vào nấu chung, vì khi nấu lâu nước cốt dừa lên dầu và biến mùi. Nấu nước cốt dừa với ít muối và đường, khuấy thêm bột đổ vào, khi múc chè ra ăn mới rưới lên, vừa thơm vừa ngon.
Đa số các món chè có nước ít dùng nước dảo dừa, riêng một số chè dạng đặc hoặc sệt như chè chuối, chè thưng, chè nếp đậu trắng, chè nếp khoai môn, chè bắp thì… cho nước dảo dừa vào nấu thay nước lã để chè béo và ngon hơn.
Kết hợp nguyên liệu
Kết hợp thêm vài loại nguyên liệu giúp chè ngon và bổ dưỡng hơn. Có thể kết hợp nấu hai loại nguyên liệu như đậu đỏ và hạt sen, đậu xanh và khoai lang, bí đỏ và bắp, mè đen và đậu phộng, hạt sen và bạch quả… hoặc thêm vài nguyên liệu phụ như nha đam, bột báng, bột khoai, phổ tai, nấm tuyết, trân châu, thạch để món chè tuyệt vời hơn và không ngán.
Ngoài ra, khi nấu có thể dùng thêm lá dứa hoặc cho vani vào khuấy đều rồi tắt bếp ngay để tạo mùi thơm hấp dẫn.
Vì sao nhiều phụ nữ sợ sinh con?
Sợ sồ sề là một lẽ, ngoài ra khi đã tập trung vào sự nghiệp thì chuyện có con trở thành gánh nặng của nhiều phụ nữ TP. Vì sao nhiều phụ nữ sợ sinh con còn nhiều lý do khác nữa.
Thống kê cho thấy mức sinh thay thế bình quân một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của cả nước là 2,05 con. Mức sinh cao nhất là khu vực Tây Nguyên với 2,65 con/phụ nữ. Riêng TP.HCM, mức sinh thay thế hiện thấp nhất nước và tiếp tục giảm rất nhanh, từ 1,45 con (2009) xuống 1,35 con năm 2014.
“Mức sinh thay thế ở TP.HCM thấp dẫn đến tình trạng già hóa dân số. Đây là thực trạng cần quan tâm vì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội…” - BS Đặng Phi Yến, Trưởng phòng Truyền thông-Giáo dục sức khỏe Chi cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình TP.HCM, cho biết.
Chị LTM, chủ một doanh nghiệp (34 tuổi, ở quận 2), cho biết con gái chị năm nay gần tám tuổi nhưng chị vẫn không có ý định sinh thêm mặc dù điều kiện kinh tế gia đình khá giả. Hỏi lý do, chị kể: “Tôi không thể quên những cơn đau dữ dội khi bắt đầu chuyển dạ. Khi cơn đau xuất hiện thì tôi lăn lộn, vật vã. Nhiều lúc không chịu nổi, tôi la hét, cào cấu lung tung. Nỗi đau ấy ám ảnh tôi đến giờ”.
Giải thích thêm về cơn đau khi sinh con, theo BS Nguyễn Ngọc Thông, Giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TP.HCM, khi sản phụ chuyển dạ sẽ xuất hiện các cơn gò (co tử cung) gây đau từng cơn. Khi đứa bé sắp ra đời sản phụ càng đau hơn, thậm chí la hét, lăn lộn, vật vã…
“Sinh thường đã đau, sinh khó càng đau hơn khiến sản phụ bị ấn tượng mạnh khi quyết định sinh con thứ hai. Bên cạnh đó, không ít chị em sinh lần đầu tiên bị tai biến nặng, suýt chết nên sợ và không dám sinh thêm con” - BS Nguyễn Ngọc Thông nói.
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến thăm hỏi, chúc mừng một phụ nữ vừa sinh con tại BV Từ Dũ (TP.HCM). Ảnh: TRẦN NGỌC
Một trường hợp ngại sinh con khác là chị NTTL (38 tuổi, ở Tân Bình), công tác trong một cơ quan hành chính ở quận Tân Bình. Chị L. đã có con trai đầu nay đã hơn 10 tuổi. Lý do của chị là điều kiện kinh tế gia đình eo hẹp.
“Chồng tôi làm cho một công ty may mặc tư nhân, lương tháng độ 5 triệu đồng. Còn tôi, lương nhà nước mỗi tháng cũng gần 5 triệu đồng. Với thu nhập của hai vợ chồng như vậy, tằn tiện lắm mỗi tháng vợ chồng tôi dành dụm được khoảng 1 triệu đồng. Tháng nào con đau mẹ ốm, giỗ quải, ma chay, cưới hỏi… là bị thâm hụt. Ông bà thường nói sinh một đứa con nghèo năm năm. Nếu tôi sinh thêm, chắc chắn gia đình sẽ thiếu trước hụt sau, con cái không được nuôi nấng tử tế” - chị L. cho biết.
Theo BS Trần Văn Trị, Phó Chi cục trưởng Chi cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình TPHCM, điều kiện kinh tế là một nguyên nhân khá phổ biến làm ảnh hưởng nhiều đến mức sinh thay thế ở TPHCM. Ở TPHCM, đa số các cặp vợ chồng công nhân, viên chức có mức thu nhập vừa đủ sống, trong khi đó sinh hoạt ở TP khá đắt đỏ nên khi có con cuộc sống của họ thêm chật vật. “Vì không muốn con cái thiếu thốn, thua thiệt với bạn bè nên nhiều vợ chồng quyết định không sinh con thứ hai”, BS Trị nói.
Và nhiều yếu tố tâm lý khác
Theo chuyên gia tâm lý Lê Khanh, Phó Giám đốc chuyên môn Trung tâm Tư vấn tâm lý - Đào tạo kỹ năng Rồng Việt Vũng Tàu, có rất nhiều yếu tố đưa đến tâm lý ngại sinh con. Từ việc sợ đau cho đến sợ vất vả nuôi dạy con. Từ việc sợ mất vóc dáng cho đến hạn chế các hoạt động xã hội. Điều này còn được tác động thêm từ môi trường bên ngoài gia đình, bởi trong xã hội hiện nay người phụ nữ đã có vai trò quan trọng hơn trong công việc, nghề nghiệp, thay vì chỉ quanh quẩn trong nhà với công việc nội trợ.
“Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hầu hết nữ sinh đã được khuyến khích tham gia những hoạt động xã hội và thăng tiến trong việc học. Bên cạnh tâm lý ngại mất ngoại hình, trở nên sồ sề sau khi sinh thì những học vị thạc sĩ, tiến sĩ là động lực thúc đẩy các nữ sinh. Hẳn nhiên, khi tập trung vào sự nghiệp, nhất là với ước vọng khát khao có bằng cấp, học vị thì chuyện con cái dù sao cũng là một gánh nặng cho chị em” - ông Khanh phân tích.
Chính những yếu tố tâm lý đó đã dần đi vào tiềm thức của các chị em. Khi lập gia đình, ngoài việc bếp núc, các chị em vẫn còn giữ nguyên nhu cầu làm việc, học tập và thăng tiến trong sự nghiệp. “Những yếu tố đó khiến rất nhiều chị em ở các TP lớn như TP.HCM hạn chế sinh con trong khả năng có thể” - ông Khanh nói.
Thống kê cho thấy mức sinh thay thế bình quân một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của cả nước là 2,05 con. Mức sinh cao nhất là khu vực Tây Nguyên với 2,65 con/phụ nữ. Riêng TP.HCM, mức sinh thay thế hiện thấp nhất nước và tiếp tục giảm rất nhanh, từ 1,45 con (2009) xuống 1,35 con năm 2014.
“Mức sinh thay thế ở TP.HCM thấp dẫn đến tình trạng già hóa dân số. Đây là thực trạng cần quan tâm vì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội…” - BS Đặng Phi Yến, Trưởng phòng Truyền thông-Giáo dục sức khỏe Chi cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình TP.HCM, cho biết.
Chị LTM, chủ một doanh nghiệp (34 tuổi, ở quận 2), cho biết con gái chị năm nay gần tám tuổi nhưng chị vẫn không có ý định sinh thêm mặc dù điều kiện kinh tế gia đình khá giả. Hỏi lý do, chị kể: “Tôi không thể quên những cơn đau dữ dội khi bắt đầu chuyển dạ. Khi cơn đau xuất hiện thì tôi lăn lộn, vật vã. Nhiều lúc không chịu nổi, tôi la hét, cào cấu lung tung. Nỗi đau ấy ám ảnh tôi đến giờ”.
Giải thích thêm về cơn đau khi sinh con, theo BS Nguyễn Ngọc Thông, Giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TP.HCM, khi sản phụ chuyển dạ sẽ xuất hiện các cơn gò (co tử cung) gây đau từng cơn. Khi đứa bé sắp ra đời sản phụ càng đau hơn, thậm chí la hét, lăn lộn, vật vã…
“Sinh thường đã đau, sinh khó càng đau hơn khiến sản phụ bị ấn tượng mạnh khi quyết định sinh con thứ hai. Bên cạnh đó, không ít chị em sinh lần đầu tiên bị tai biến nặng, suýt chết nên sợ và không dám sinh thêm con” - BS Nguyễn Ngọc Thông nói.
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến thăm hỏi, chúc mừng một phụ nữ vừa sinh con tại BV Từ Dũ (TP.HCM). Ảnh: TRẦN NGỌC
Một trường hợp ngại sinh con khác là chị NTTL (38 tuổi, ở Tân Bình), công tác trong một cơ quan hành chính ở quận Tân Bình. Chị L. đã có con trai đầu nay đã hơn 10 tuổi. Lý do của chị là điều kiện kinh tế gia đình eo hẹp.
“Chồng tôi làm cho một công ty may mặc tư nhân, lương tháng độ 5 triệu đồng. Còn tôi, lương nhà nước mỗi tháng cũng gần 5 triệu đồng. Với thu nhập của hai vợ chồng như vậy, tằn tiện lắm mỗi tháng vợ chồng tôi dành dụm được khoảng 1 triệu đồng. Tháng nào con đau mẹ ốm, giỗ quải, ma chay, cưới hỏi… là bị thâm hụt. Ông bà thường nói sinh một đứa con nghèo năm năm. Nếu tôi sinh thêm, chắc chắn gia đình sẽ thiếu trước hụt sau, con cái không được nuôi nấng tử tế” - chị L. cho biết.
Theo BS Trần Văn Trị, Phó Chi cục trưởng Chi cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình TPHCM, điều kiện kinh tế là một nguyên nhân khá phổ biến làm ảnh hưởng nhiều đến mức sinh thay thế ở TPHCM. Ở TPHCM, đa số các cặp vợ chồng công nhân, viên chức có mức thu nhập vừa đủ sống, trong khi đó sinh hoạt ở TP khá đắt đỏ nên khi có con cuộc sống của họ thêm chật vật. “Vì không muốn con cái thiếu thốn, thua thiệt với bạn bè nên nhiều vợ chồng quyết định không sinh con thứ hai”, BS Trị nói.
Và nhiều yếu tố tâm lý khác
Theo chuyên gia tâm lý Lê Khanh, Phó Giám đốc chuyên môn Trung tâm Tư vấn tâm lý - Đào tạo kỹ năng Rồng Việt Vũng Tàu, có rất nhiều yếu tố đưa đến tâm lý ngại sinh con. Từ việc sợ đau cho đến sợ vất vả nuôi dạy con. Từ việc sợ mất vóc dáng cho đến hạn chế các hoạt động xã hội. Điều này còn được tác động thêm từ môi trường bên ngoài gia đình, bởi trong xã hội hiện nay người phụ nữ đã có vai trò quan trọng hơn trong công việc, nghề nghiệp, thay vì chỉ quanh quẩn trong nhà với công việc nội trợ.
“Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hầu hết nữ sinh đã được khuyến khích tham gia những hoạt động xã hội và thăng tiến trong việc học. Bên cạnh tâm lý ngại mất ngoại hình, trở nên sồ sề sau khi sinh thì những học vị thạc sĩ, tiến sĩ là động lực thúc đẩy các nữ sinh. Hẳn nhiên, khi tập trung vào sự nghiệp, nhất là với ước vọng khát khao có bằng cấp, học vị thì chuyện con cái dù sao cũng là một gánh nặng cho chị em” - ông Khanh phân tích.
Chính những yếu tố tâm lý đó đã dần đi vào tiềm thức của các chị em. Khi lập gia đình, ngoài việc bếp núc, các chị em vẫn còn giữ nguyên nhu cầu làm việc, học tập và thăng tiến trong sự nghiệp. “Những yếu tố đó khiến rất nhiều chị em ở các TP lớn như TP.HCM hạn chế sinh con trong khả năng có thể” - ông Khanh nói.
Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016
Cách ăn chuối tốt cho sức khỏe không phải ai cũng biết
Theo các nhà khoa học, chuối là loại hoa quả giàu calo, giàu chất xơ và chất đường, vì vậy, ăn chuối vừa có thể giúp bạn thỏa mãn cơn đói, vừa có thể giúp bạn bố sung năng lượng và dinh dưỡng cho cơ thể.
Tuy nhiên, chuối cũng như các hoa quả khác, nếu ăn không đúng cách sẽ gây hại cho sức khỏe. Những lưu ý sau đây giúp bạn ăn chuối một cách khoa học hơn:
Cách ăn chuối tốt cho sức khỏe không phải ai cũng biết
Ăn chuối đúng cách không phải ai cũng biết. Ảnh minh họa.
Nên ăn chuối đã chín kỹ
Một nghiên cứu gần đây của Nhật Bản đã tìm thấy sự thật rất thú vị về chuối, đó là chất oxy hóa và ung thư có trong chuối chín.
Nghiên cứu cho thấy các đốm xuất hiện càng nhiều và càng đen chừng nào thì khả năng chống ung thư càng cao.
Hơn nữa, vỏ chuối vàng sậm với nhiều đốm đen sẽ có tác dụng gấp 8 lần trong việc tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể hơn so với loại chuối còn xanh.
Do đó, ăn chuối chín kỹ là sự lựa chọn tốt nhất dành cho sức khỏe. Tuy nhiên, với người có bệnh tiểu đường loại 2 hoặc đang có chế độ ăn giảm đường trong máu, hãy cân nhắc ăn chuối chín.
Không ăn quá 2 quả/ngày
Ăn chuối trở nên nguy hiểm nếu bạn ăn quá nhiều. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, chỉ nên ăn khoảng 2 quả chuối mỗi ngày, vì nếu nạp quá nhiều chuối vào cơ thể sẽ gây ra tình trạng rối loạn vitamin và khoáng chất trong cơ thể.
Một nghiên cứu về ngưỡng gây bệnh của chuối, cho rằng nếu ăn khoảng 43 quả chuối trong một thời gian ngắn sẽ xuất hiện các triệu chứng của tăng kali máu. Điều này để lại hậu quả làm cơ suy yếu, nhịp tim trở nên bất thường, thậm chí dẫn đến tình trạng tê liệt tạm thời.
Việc nạp nhiều kali vào cơ thể cũng có thể gây tổn thương cho thận. Bởi nếu thận không thể làm việc tốt để loại bỏ kali dư thừa trong máu, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe.
Cách ăn chuối tốt cho sức khỏe là không quá 2 quả/ngày và cân nhắc cho bệnh nhân tiểu đường. Ảnh minh họa.
Không ăn khi đói
Chuối sẽ phát huy tốt tác dụng thúc đẩy hệ tiêu hóa hoạt động khi bạn ăn chúng sau bữa cơm khoảng 1 - 2 tiếng. Ngược lại, nếu dùng chuối làm thức ăn khi đói thì thật nguy hại.
Trong chuối có chứa nhiều magie. Ăn chuối lúc dạ dày bạn đang trống rỗng sẽ làm lượng magie tăng đột ngột trong máu, gây mất cân bằng tim mạch và làm tổn hại đến sức khỏe. Lượng Vitamin C dồi dào trong chuối nếu đưa vào cơ thể khi đói cũng khiến bạn bị đau dạ dày ngay lập tức.
Để tránh hiện tượng này, bạn nên ăn chuối khi đã ăn cơm no. Lúc này, chuối có tác dụng bảo vệ dạ dày do nó trung hòa axit dạ dày.
Cách chọn chuối không “ngậm” hóa chất
Quả chuối chín ép bằng hóa chất thì thân chín vàng đều, đẹp nhưng cuống vẫn có màu xanh và đầu ngọn vẫn dính nhựa. Khi bóc vỏ ra ăn, thịt chuối vẫn sượng như ăn cơm sống.
Chuối chín cây thường không đều, có quả chín quả còn xanh. Khi chín, vào mùa đông da thường có chấm màu đen (chuối trứng cuốc nếu là chuối tiêu). Chuối có màu vàng chấm hồngcó những vạch màu đen.
Lưu ý: Không bảo quản chuối ở tủ lạnh hoặc ngăn đá. Tránh lột vỏ trước khi chưa ăn làm như thế sẽ mất tác dụng của chuối.
Tuy nhiên, chuối cũng như các hoa quả khác, nếu ăn không đúng cách sẽ gây hại cho sức khỏe. Những lưu ý sau đây giúp bạn ăn chuối một cách khoa học hơn:
Cách ăn chuối tốt cho sức khỏe không phải ai cũng biết
Ăn chuối đúng cách không phải ai cũng biết. Ảnh minh họa.
Nên ăn chuối đã chín kỹ
Một nghiên cứu gần đây của Nhật Bản đã tìm thấy sự thật rất thú vị về chuối, đó là chất oxy hóa và ung thư có trong chuối chín.
Nghiên cứu cho thấy các đốm xuất hiện càng nhiều và càng đen chừng nào thì khả năng chống ung thư càng cao.
Hơn nữa, vỏ chuối vàng sậm với nhiều đốm đen sẽ có tác dụng gấp 8 lần trong việc tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể hơn so với loại chuối còn xanh.
Do đó, ăn chuối chín kỹ là sự lựa chọn tốt nhất dành cho sức khỏe. Tuy nhiên, với người có bệnh tiểu đường loại 2 hoặc đang có chế độ ăn giảm đường trong máu, hãy cân nhắc ăn chuối chín.
Không ăn quá 2 quả/ngày
Ăn chuối trở nên nguy hiểm nếu bạn ăn quá nhiều. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, chỉ nên ăn khoảng 2 quả chuối mỗi ngày, vì nếu nạp quá nhiều chuối vào cơ thể sẽ gây ra tình trạng rối loạn vitamin và khoáng chất trong cơ thể.
Một nghiên cứu về ngưỡng gây bệnh của chuối, cho rằng nếu ăn khoảng 43 quả chuối trong một thời gian ngắn sẽ xuất hiện các triệu chứng của tăng kali máu. Điều này để lại hậu quả làm cơ suy yếu, nhịp tim trở nên bất thường, thậm chí dẫn đến tình trạng tê liệt tạm thời.
Việc nạp nhiều kali vào cơ thể cũng có thể gây tổn thương cho thận. Bởi nếu thận không thể làm việc tốt để loại bỏ kali dư thừa trong máu, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe.
Cách ăn chuối tốt cho sức khỏe là không quá 2 quả/ngày và cân nhắc cho bệnh nhân tiểu đường. Ảnh minh họa.
Không ăn khi đói
Chuối sẽ phát huy tốt tác dụng thúc đẩy hệ tiêu hóa hoạt động khi bạn ăn chúng sau bữa cơm khoảng 1 - 2 tiếng. Ngược lại, nếu dùng chuối làm thức ăn khi đói thì thật nguy hại.
Trong chuối có chứa nhiều magie. Ăn chuối lúc dạ dày bạn đang trống rỗng sẽ làm lượng magie tăng đột ngột trong máu, gây mất cân bằng tim mạch và làm tổn hại đến sức khỏe. Lượng Vitamin C dồi dào trong chuối nếu đưa vào cơ thể khi đói cũng khiến bạn bị đau dạ dày ngay lập tức.
Để tránh hiện tượng này, bạn nên ăn chuối khi đã ăn cơm no. Lúc này, chuối có tác dụng bảo vệ dạ dày do nó trung hòa axit dạ dày.
Cách chọn chuối không “ngậm” hóa chất
Quả chuối chín ép bằng hóa chất thì thân chín vàng đều, đẹp nhưng cuống vẫn có màu xanh và đầu ngọn vẫn dính nhựa. Khi bóc vỏ ra ăn, thịt chuối vẫn sượng như ăn cơm sống.
Chuối chín cây thường không đều, có quả chín quả còn xanh. Khi chín, vào mùa đông da thường có chấm màu đen (chuối trứng cuốc nếu là chuối tiêu). Chuối có màu vàng chấm hồngcó những vạch màu đen.
Lưu ý: Không bảo quản chuối ở tủ lạnh hoặc ngăn đá. Tránh lột vỏ trước khi chưa ăn làm như thế sẽ mất tác dụng của chuối.
Thực phẩm không nên để trong tủ lạnh không phải ai cũng biết
Bánh mì là loại thực phẩm không nên để trong tủ lạnh vì nó sẽ nhanh bị khô và cứng, và nếu môi trường tủ lạnh không sạch sẽ, thì trên bánh dễ xuất hiện nấm mốc. Bánh mì cần được bảo quản ở nhiệt độ phòng và không quá 4 ngày.
2. Tỏi
Khi để trong tủ lạnh do ẩm ướt, nhánh và đầu tỏi sẽ dễ mọc mầm non, thậm chí phát triển nấm mốc gây hại cho sức khỏe khi ăn. Thêm nữa là tỏi không chịu được lạnh, nó sẽ bị mềm khá nhanh và biến dạng, tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển. Vì thế, bạn hãy để tỏi ở nơi khô ráo, thoáng mát để có thể giữ tỏi trong 2-3 tháng.
3. Dưa hấu
Dưa hấu mất một số chất chống oxy hóa như lycopen và beta-caroten khi bảo quản trong tủ lạnh. Các chất chống oxy hóa trong thực phẩm gồm dưa hấu rất dễ mất nếu không được bảo quản đúng cách. Thay vào đó, bạn hãy để dưa hấu trên bàn ở nhiệt độ phòng để duy trì các chất chống oxy hóa này. Dưa hấu đã cắt miếng nên bao gói cẩn thận và đặt trong tủ lạnh.
4. Húng quế
Loại rau thơm này sẽ héo nhanh hơn nếu để trong tủ lạnh và nó hấp thụ mùi của tất cả thực phẩm xung quanh. Nếu muốn bảo quản tốt hơn thì bạn hãy làm giống như với hoa: Đặt nó vào trong một cốc nước sạch.
5. Thuốc đông y
Theo các nghiên cứu thì nguyên liệu thuốc đông y sẽ dễ bị những vi khuẩn có hại xâm nhập khi nằm bên cạnh những loại thực phẩm trong tủ lạnh. Bên cạnh đó thuốc còn bị ẩm, nhanh hỏng, làm mất dược tính của thuốc.
Vì thế, chỉ cần bảo quản thuốc trong bình thủy tinh, với một ít gạo nếp đã rang đến cháy vàng, để nơi thoáng mát.
6. Chocolate
Chocolate để trong tủ lạnh, khi bỏ ra, bề mặt sẽ dễ xuất hiện lớp sương trắng, không những mất đi hương vị ban đầu, mà còn có lợi cho vi khuẩn sinh sôi nảy nở. Nhiệt độ thích hợp để bảo quản chocolate là 5-18 độ C.
Vào mùa hè, nếu nhiệt độ quá cao, có thể dùng túi nilong bọc kín lại, đặt trong ngăn mát tủ lạnh. Khi lấy ra, không nên mở ra ngày mà để nó từ từ trở lại nhiệt độ ban đầu mới sử dụng.
7. Cá
Cá là thực phẩm không nên để trong tủ lạnh quá lâu. Nhiệt độ tủ đông thường là -15 độ C, tủ lạnh tốt thì có thể đạt tới -20 độ C. Mà những đồ thủy sản, đặc biệt là cá, khi chưa đạt tới -30OC, các thành phần trong cá sẽ tách nước hoặc thay đổi.
Ví dụ như cá diếc, khi để lâu trong tủ lạnh sẽ dẫn đến axit hóa và mục ruỗng, chất thịt thay đổi, tuy rằng nhìn vẫn không thấy khác gì so với trước khi để vào tủ, nhưng thực ra đã không thể ăn được nữa rồi.
8. Khoai tây
Nhiệt độ lạnh sẽ phá vỡ các kết cấu tinh bột trong khoai tây, chuyển thành đường khiến nó cứng, thay đổi hương vị, không ngon cho dù chế biến như thế nào. Để bảo quản khoai tây, bạn có thể để chúng ở những nơi khô ráo, thoáng mát và tối hoặc bọc khoai tây trong giấy để giúp khoai tây lâu bị thối hơn.
Bạc tóc sớm vì không biết ăn bao nhiêu muối là đủ
Muối vừa là người bạn, vừa là kẻ thù của sự sống. Thiếu muối (muối i- ốt) dễ sinh bệnh bướu cổ, nhưng thừa muối còn nguy hiểm hơn vì khiến con người có nguy cơ bị ngập máu đột quỵ ở não. Vậy ăn bao nhiêu là đủ? Trẻ em có cần ăn muối không?
Bạc tóc ngay cả khi còn trẻ
Mặc dù mới 28 tuổi, chưa có chồng, con nhưng chị Khương Thị Nhàn đã bị bạc tóc rất nhiều ở đỉnh đầu. Điều lạ là không ai trong gia đình mắc chứng tóc bạc sớm như chị Nhàn. Ngay cả mẹ chị bây giờ cũng mới chỉ lác đác tóc bạc. Chứng bạc tóc khiến chị Nhàn trông già hơn cả chục tuổi. Chính vì điều này khiến chị đã muộn chồng, lại càng khó có cơ hội có người yêu. Nghe theo lời khuyên của nhiều người, chị Nhàn đến bệnh viện chuyên về da liễu khám. Sau khi làm các xét nghiệm và thăm hỏi chế độ sinh hoạt hàng ngày của chị Nhàn, bác sỹ khuyên chị bớt lo nghĩ và ăn nhạt hơn so với mức ăn bình thường hàng ngày. “Tôi đã thực hiện theo lời bác sỹ khuyên, không nghĩ ngợi nhiều chuyện chồng con nữa, cũng ăn nhạt hơn. Bình thường tôi ăn mặn hơn mọi người. Nếu tôi cảm thấy nhạt thì mọi người trong gia đình thấy vừa miệng. Nếu tôi cảm thấy vừa miệng thì mọi người thấy mặn. Còn nếu tôi thấy hơi đậm thì mọi người trong gia đình tôi không thể ăn được vì quá mặn. Sau hơn một năm tôi cố ăn theo mọi người trong gia đình, chứng bạc tóc có vẻ giảm đi khá nhiều”, chị Nhàn cho biết.
Giải thích về hiện tượng người trẻ tuổi có thể bạc tóc vì ăn nhiều muối, các tác giả cuốn sách 350 điều không nên của NXB Từ điển Bách Khoa cho rằng, vì muối là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch và cao huyết áp. Khi bị cao huyết áp, lượng máu cung cấp cho não không đủ dẫn tới khả năng tổng hợp sắc tố đen của các nang lông và sắc tố đen bị hạ thấp, dẫn tới việc bạc tóc khi vẫn đang còn trẻ.
Một chứng bệnh nguy hiểm hơn cho cơ thể nếu chúng ta ăn nhiều muối là chứng ngập máu, đột quỵ ở não. Kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia tại một số vùng đồng bằng, nhất là vùng đồng bằng gần biển cho thấy người dân khu vực này ăn muối nhiều gấp đôi so với lượng muối cần thiết. Các chuyên gia ở Viện này đã kết luận rằng, điều đó đặc biệt nguy hiểm vì ăn quá nhiều muối dẫn tới việc tăng huyết áp và gây chứng ngập máu đột quỵ ở não. TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia khuyến cáo, với những người đang bị bệnh cao huyết áp thì rất cần phải giảm ngay lượng muối ăn hàng ngày, vì lượng muối được hấp thụ vào cơ thể càng ít càng có cơ hội giảm huyết áp.
Ngoài ra, những người mắc bệnh hen suyễn có thể bị mắc bệnh trầm trọng hơn nếu ăn quá mặn. Bình thường, cơ trơn của khí quản có độ mẫn cảm cao có thể “thẩm thấu đối với natri”, tác động làm co khí quản, co mạch máu và huyết áp dễ gây nên hen suyễn nặng hơn. Nhưng tính phản ứng cao của khí quản có thể giảm đi nếu ăn lượng muối thấp.
Ăn nhiều muối gây nguy hại cho cơ thể, nhưng nếu thiếu muối thì cũng khiến cho cơ thể rất mệt mỏi, có thể hôn mê nếu thiếu nặng (với trẻ em), đặc biệt là muối i-ốt với phụ nữ mang thai. Lâu nay, nhiều người chỉ biết thiếu i-ốt gây nên bệnh bướu cổ, đần độn vì i-ốt là nguyên liệu chủ yếu tổng hợp hormone giáp trạng. Khi thiếu i-ốt, cơ thể sẽ phản ứng bù trừ bằng cách tăng sinh tuyến giáp, nhằm tăng cường hoạt động để sản sinh lượng hormone đầy đủ do đó dẫn đến hiện tượng bướu cổ (phì đại tuyến giáp), gây rối loạn chức năng dẫn tới đần độn. Tuy nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng Quốc gia còn cảnh báo, với phụ nữ mang thai nếu thiếu i- ốt, người mẹ dễ sinh con khuyết tật như: Trẻ bị đần độn về trí tuệ do tổn thương não vĩnh viễn hoặc có nguy cơ bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt chân, tay…Ngoài ra, khi mang thai, nếu thiếu i-ốt, phụ nữ cũng dễ bị sảy thai, thai chết lưu hoặc thai kém phát triển hơn những phụ nữ bình thường khác.
Bạc tóc sớm vì không biết ăn bao nhiêu muối là đủ
Ăn bao nhiêu muối là đủ không phải ai cũng biết. Ảnh minh họa.
Ăn bao nhiêu muối mỗi ngày?
Muối có công thức hóa học là NaCl gọi là Natri Chlorua, khi vào cơ thể sẽ được tách ra thành Natri và Chlor. Vai trò của những chất này rất quan trọng vì chúng giữ sự ổn định môi trường trong máu, trong tế bào, chúng tham gia vào quá trình vận chuyển các chất dinh dưỡng qua màng tế bào…Mặc dù muối rất quan trọng nhưng cũng không thể thiếu hay thừa. Vì cả hai đều gây hậu quả không tốt cho sức khỏe. Vậy mỗi ngày một người nên ăn bao nhiêu muối?
Theo khuyến cáo của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, mỗi ngày, người lớn chỉ cần ăn một lượng muối thấp hơn 10g. Nhưng tốt nhất là từ 6-8g muối. Riêng mùa hè, cơ thể bài tiết nhiều mồ hôi hơn mùa đông, vì vậy mỗi người cũng cần ăn tăng thêm một chút muối để bổ sung lượng muối bị mất qua mồ hôi.
Với trẻ em, chức năng thận còn non nớt, bạn không nên cho muối vào thức ăn của trẻ trước khi trẻ 1 tuổi. Trẻ dưới 1 tuổi nên ăn nhạt để thận của bé không phải “làm việc” quá tải. Lượng muối có trong thực phẩm tự nhiên là đủ cho nhu cầu của trẻ. Lượng muối dư trong thực phẩm sẽ được thận của trẻ thải ra và không ảnh hưởng tới sức khỏe. Nhưng, nếu nêm muối thì thận chưa trưởng thành của trẻ phải làm việc nhiều hơn, sẽ dư thừa muối làm trẻ khát nước, biếng ăn, mệt mỏi và nguy cơ cao huyết áp sau này.
Nấu ăn cho trẻ trên 3 tuổi nên sử dụng muối i-ốt thay cho muối thường để đảm bảo đủ nhu cầu i-ốt cho cơ thể trẻ và phòng được các rối loạn do thiếu i-ốt gây ra. Ngoài ra, bạn cũng nên lưu ý là i-ốt có khả năng bị hao hụt trong quá trình bảo quản hay chế biến như đun sôi lâu trong nước sẽ bị mất tác dụng. Do đó, khi nêm nếm thức ăn, để giữ lượng i-ốt thì cần cho muối i-ốt vào khi thức ăn gần chín. Không để muối i-ốt gần bếp lửa nóng hay nơi có ánh nắng chiếu vào.
Mỗi ngày, người lớn chỉ cần ăn một lượng từ 6-8g muối. Riêng mùa hè, cơ thể bài tiết nhiều mồ hôi hơn mùa đông vì vậy mỗi người cũng cần ăn tăng thêm một chút muối để bổ sung lượng muối bị mất qua mồ hôi.
Với trẻ em, bạn không nên cho muối vào thức ăn của trẻ trước khi trẻ 1 tuổi. Trẻ dưới 1 tuổi nên ăn nhạt để thận của bé không phải “làm việc” quá tải.
Bạc tóc ngay cả khi còn trẻ
Mặc dù mới 28 tuổi, chưa có chồng, con nhưng chị Khương Thị Nhàn đã bị bạc tóc rất nhiều ở đỉnh đầu. Điều lạ là không ai trong gia đình mắc chứng tóc bạc sớm như chị Nhàn. Ngay cả mẹ chị bây giờ cũng mới chỉ lác đác tóc bạc. Chứng bạc tóc khiến chị Nhàn trông già hơn cả chục tuổi. Chính vì điều này khiến chị đã muộn chồng, lại càng khó có cơ hội có người yêu. Nghe theo lời khuyên của nhiều người, chị Nhàn đến bệnh viện chuyên về da liễu khám. Sau khi làm các xét nghiệm và thăm hỏi chế độ sinh hoạt hàng ngày của chị Nhàn, bác sỹ khuyên chị bớt lo nghĩ và ăn nhạt hơn so với mức ăn bình thường hàng ngày. “Tôi đã thực hiện theo lời bác sỹ khuyên, không nghĩ ngợi nhiều chuyện chồng con nữa, cũng ăn nhạt hơn. Bình thường tôi ăn mặn hơn mọi người. Nếu tôi cảm thấy nhạt thì mọi người trong gia đình thấy vừa miệng. Nếu tôi cảm thấy vừa miệng thì mọi người thấy mặn. Còn nếu tôi thấy hơi đậm thì mọi người trong gia đình tôi không thể ăn được vì quá mặn. Sau hơn một năm tôi cố ăn theo mọi người trong gia đình, chứng bạc tóc có vẻ giảm đi khá nhiều”, chị Nhàn cho biết.
Giải thích về hiện tượng người trẻ tuổi có thể bạc tóc vì ăn nhiều muối, các tác giả cuốn sách 350 điều không nên của NXB Từ điển Bách Khoa cho rằng, vì muối là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch và cao huyết áp. Khi bị cao huyết áp, lượng máu cung cấp cho não không đủ dẫn tới khả năng tổng hợp sắc tố đen của các nang lông và sắc tố đen bị hạ thấp, dẫn tới việc bạc tóc khi vẫn đang còn trẻ.
Một chứng bệnh nguy hiểm hơn cho cơ thể nếu chúng ta ăn nhiều muối là chứng ngập máu, đột quỵ ở não. Kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia tại một số vùng đồng bằng, nhất là vùng đồng bằng gần biển cho thấy người dân khu vực này ăn muối nhiều gấp đôi so với lượng muối cần thiết. Các chuyên gia ở Viện này đã kết luận rằng, điều đó đặc biệt nguy hiểm vì ăn quá nhiều muối dẫn tới việc tăng huyết áp và gây chứng ngập máu đột quỵ ở não. TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia khuyến cáo, với những người đang bị bệnh cao huyết áp thì rất cần phải giảm ngay lượng muối ăn hàng ngày, vì lượng muối được hấp thụ vào cơ thể càng ít càng có cơ hội giảm huyết áp.
Ngoài ra, những người mắc bệnh hen suyễn có thể bị mắc bệnh trầm trọng hơn nếu ăn quá mặn. Bình thường, cơ trơn của khí quản có độ mẫn cảm cao có thể “thẩm thấu đối với natri”, tác động làm co khí quản, co mạch máu và huyết áp dễ gây nên hen suyễn nặng hơn. Nhưng tính phản ứng cao của khí quản có thể giảm đi nếu ăn lượng muối thấp.
Ăn nhiều muối gây nguy hại cho cơ thể, nhưng nếu thiếu muối thì cũng khiến cho cơ thể rất mệt mỏi, có thể hôn mê nếu thiếu nặng (với trẻ em), đặc biệt là muối i-ốt với phụ nữ mang thai. Lâu nay, nhiều người chỉ biết thiếu i-ốt gây nên bệnh bướu cổ, đần độn vì i-ốt là nguyên liệu chủ yếu tổng hợp hormone giáp trạng. Khi thiếu i-ốt, cơ thể sẽ phản ứng bù trừ bằng cách tăng sinh tuyến giáp, nhằm tăng cường hoạt động để sản sinh lượng hormone đầy đủ do đó dẫn đến hiện tượng bướu cổ (phì đại tuyến giáp), gây rối loạn chức năng dẫn tới đần độn. Tuy nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng Quốc gia còn cảnh báo, với phụ nữ mang thai nếu thiếu i- ốt, người mẹ dễ sinh con khuyết tật như: Trẻ bị đần độn về trí tuệ do tổn thương não vĩnh viễn hoặc có nguy cơ bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt chân, tay…Ngoài ra, khi mang thai, nếu thiếu i-ốt, phụ nữ cũng dễ bị sảy thai, thai chết lưu hoặc thai kém phát triển hơn những phụ nữ bình thường khác.
Bạc tóc sớm vì không biết ăn bao nhiêu muối là đủ
Ăn bao nhiêu muối là đủ không phải ai cũng biết. Ảnh minh họa.
Ăn bao nhiêu muối mỗi ngày?
Muối có công thức hóa học là NaCl gọi là Natri Chlorua, khi vào cơ thể sẽ được tách ra thành Natri và Chlor. Vai trò của những chất này rất quan trọng vì chúng giữ sự ổn định môi trường trong máu, trong tế bào, chúng tham gia vào quá trình vận chuyển các chất dinh dưỡng qua màng tế bào…Mặc dù muối rất quan trọng nhưng cũng không thể thiếu hay thừa. Vì cả hai đều gây hậu quả không tốt cho sức khỏe. Vậy mỗi ngày một người nên ăn bao nhiêu muối?
Theo khuyến cáo của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, mỗi ngày, người lớn chỉ cần ăn một lượng muối thấp hơn 10g. Nhưng tốt nhất là từ 6-8g muối. Riêng mùa hè, cơ thể bài tiết nhiều mồ hôi hơn mùa đông, vì vậy mỗi người cũng cần ăn tăng thêm một chút muối để bổ sung lượng muối bị mất qua mồ hôi.
Với trẻ em, chức năng thận còn non nớt, bạn không nên cho muối vào thức ăn của trẻ trước khi trẻ 1 tuổi. Trẻ dưới 1 tuổi nên ăn nhạt để thận của bé không phải “làm việc” quá tải. Lượng muối có trong thực phẩm tự nhiên là đủ cho nhu cầu của trẻ. Lượng muối dư trong thực phẩm sẽ được thận của trẻ thải ra và không ảnh hưởng tới sức khỏe. Nhưng, nếu nêm muối thì thận chưa trưởng thành của trẻ phải làm việc nhiều hơn, sẽ dư thừa muối làm trẻ khát nước, biếng ăn, mệt mỏi và nguy cơ cao huyết áp sau này.
Nấu ăn cho trẻ trên 3 tuổi nên sử dụng muối i-ốt thay cho muối thường để đảm bảo đủ nhu cầu i-ốt cho cơ thể trẻ và phòng được các rối loạn do thiếu i-ốt gây ra. Ngoài ra, bạn cũng nên lưu ý là i-ốt có khả năng bị hao hụt trong quá trình bảo quản hay chế biến như đun sôi lâu trong nước sẽ bị mất tác dụng. Do đó, khi nêm nếm thức ăn, để giữ lượng i-ốt thì cần cho muối i-ốt vào khi thức ăn gần chín. Không để muối i-ốt gần bếp lửa nóng hay nơi có ánh nắng chiếu vào.
Mỗi ngày, người lớn chỉ cần ăn một lượng từ 6-8g muối. Riêng mùa hè, cơ thể bài tiết nhiều mồ hôi hơn mùa đông vì vậy mỗi người cũng cần ăn tăng thêm một chút muối để bổ sung lượng muối bị mất qua mồ hôi.
Với trẻ em, bạn không nên cho muối vào thức ăn của trẻ trước khi trẻ 1 tuổi. Trẻ dưới 1 tuổi nên ăn nhạt để thận của bé không phải “làm việc” quá tải.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)